Danh mục sản phẩm


Vật liệu làm cửa gỗ tự nhiên

Vật liệu làm cửa gỗ tự nhiên – Công Ty Nội Thất Đức Dương

Vật liệu làm cửa gỗ tự nhiên để tạo nên sản phẩm Cửa gỗ tự nhiên Đức Dương đó chính là gỗ tự nhiên và các sản phẩm phụ như  Sơn dùng để sơn phủ bề mặt và Các phụ kiện kim khí. Để có được sản phẩm chất lượng Nội thất Đức Dương phải hiểu được đặc tính của từng loại vật liệu cấu thành nên sản phẩm: cửa gỗ, cửa gỗ tự nhiên, cửa gỗ công nghiệp, cửa gỗ laminate và lựa chọn kỹ lưỡng để đưa vào sản xuất. Chúng tôi cũng xin giới thiệu qua để bạn đọc biết được những loại vật liệu mà chúng tôi sử dụng:

1. Gỗ tự nhiên:  Sản phẩm cửa gỗ tự nhiên là những thanh gỗ nguyên tấm đã qua xử  lý bằng công nghệ biến tính gỗ (công nghệ cao ghép Finger). Nhờ công nghệ sản xuất và các nghiên cứu về ưu điểm cũng như nhược điểm của gỗ tự nhiên mà nhà sản xuất nội thất Đức Dương đã đưa ra sản phẩm không chỉ chỉ đảm bảo tính thẩm mỹ, chất lượng ổn định mà còn hạn chế tối đa sự  cong vênh, co ngót trước điều kiện khí hậu ở Việt Nam.

Ưu điểm vật liệu làm cửa gỗ tự nhiên

– Bền theo thời gian: Vật liệu gỗ tự nhiên thường có độ bền cao, một số loại gỗ thuộc dạng quý hiếm như Pơ mu, Giáng Hương, Đinh Hương, Gụ, Trắc …còn gia tăng giá trị gỗ theo thời gian sử dụng.
– Đẹp: Gỗ tự nhiên mang vẻ đẹp của tự nhiên, những hình vân gỗ là nét đặc trưng của mỗi loại gỗ , không có hai loại gỗ có vân giống nhau, cho nên từ xưa những người am hiểu về gỗ có thể nhìn vân gỗ để nhận diện loại gỗ, giống như vân tay của con người vậy . Tuỳ vào sở thích của mỗi người mà chọn loại vân gỗ, màu sắc sơn phù hợp . Thông thường người ta thường sơn màu cánh gián, màu nâu vàng nhạt đậm tùy sở thích mỗi người, hoặc cũng có thể giữ  màu tự  nhiên của gỗ…
– Bền với nước : Ưu điểm nổi bật của gỗ tự nhiên là có độ bên cao khi tiếp xúc với nước, tất nhiên phải được tẩm sấy, sơn bả kỹ không hở mộng.
– Chắc chắn : Như đã nói ở trên thì sự chắc chắn của gỗ tự nhiên rất cao cho dù bạn chọn loại gỗ gì đi chăng nữa, so với gỗ công nghiệp thì gỗ tự  nhiên chắc chắn hơn.
– Thẩm mỹ, họa tiết : Gỗ tự nhiên có nhiều kích thước khác nhau tạo nên sự phong phú, với gỗ tự  nhiên thì  người thợ có thể chế tạo ra những họa tiết, kết cấu mang tính  mỹ thuật , điều này thường không làm được ở  gỗ công nghiệp vì gỗ công nghiệp được sản xuât theo tấm có độ dày cố định và giới hạn, mà không thể ghép những tấm gỗ vào với nhau được như  gỗ tự nhiên.
– Phong cách : Cổ điển, ấm cúng, sang trọng.

Nhược điểm:

Gỗ tự  nhiên ngày càng khan hiếm, hiện nay hầu hết gỗ tự nhiên được nhập khẩu, vì vậy giá gỗ khá cao, chi phí gia công chế tác gỗ tự nhiên cao vì phải làm thủ công nhiều, không thể sản xuất hàng loạt như gỗ công nghiệp nên giá thành của sản phẩm gỗ tự nhiên luôn cao hơn khá nhiều so với gỗ công nghiệp.
Cong vênh, co ngót : Khi người thợ thi công nội thất nếu không có tay nghề cao, và không làm trong môi trường sản xuất nội thất chuyên nghiệp thì rất dễ làm ra một sản phẩm không đạt tiêu chuẩn và hiện tượng cong vênh, co ngót sẽ xảy ra nhất là với phần cánh cửa, cánh tủ …hầu hết các lỗi để đồ nội thất có tình trạng cong vênh là do người thợ bố trí kích thước không hợp lý, gép mộng không đúng kỹ thuật, tuy ban đầu có thể không xuất hiện, hiện tượng cong vênh nhưng sau một thời gian sử dụng sẽ dẫn đến tình trạng các cánh bị vênh hoặc cong và không đóng được cánh tủ.

2. Sơn PU: Mẫu cửa gỗ Đức Dương khi hoàn thiện bề mặt đã được sử lý tạo độ phẳng sau đó được sơn phủ bằng sơn phủ PU bóng mờ 75%.

Vậy sơn PU là gì?

Polyurethane (PU) là một loại polymer có khá nhiều ứng dụng trong cuộc sống. Pu có hai dạng tồn tại chính là dạng cứng và dạng foam. PU được dùng làm vecni de đánh bóng và bảo vệ đồ gỗ. Đối với dạng foam, PU được dùng để làm nệm mút trong các lại ghế (như ghế nồi trong xe hơi chẳng hạn). Ngoài ra, ứng dụng của PU foam được dùng để bảo vệ và vận chuyển các thiết bị, dụng cụ dễ vỡ.
Để điều chế PU, 2 thành fần chính ko thể thiếu là monome chứa ít nhất 2 nhóm isocyanat và monome chứa ít nhất 2 nhóm hydroxyl. Pu chung giữa nhóm chức isocyanate và hydroxy là:

Khi các monomer có số các nhóm chức lớn hơn hoặc bằng 2, pu trùng hợp bậc xảy ra tạo polymer
Hợp chất isocyanate thường dùng là các hợp chất vòng thơm, còn các hợp chất béo hoặc cycloankan thì thường ít được dùng hơn. Toluen disiocyanate(TDI) và diphenylmetan disocyanat(MDI) rất thường dùng trong tổng hợp PU.

Hợp chất polyol thường dùng là PPG(polypropylen glycol) hoặc các loại polyester khác. Điều đáng lưu ý ở đây là polyol này là 1 hợp chất cao phân tử nhưng có khối lượng ko lơn lắm.
Bên cạnh 2 thành fần chính như trên, yếu tố như xúc tác, dkiện tiến hành pu, chain extender, … ảnh hưởng khá đáng kể đến cấu trúc và tính chất của PU.
Xúc tác thường dùng là amin, cơ chế như sau:

Nếu muốn điều chế PU dạng foam, cần có blowing agent ( chất tạo bọt). Thông thường PU rất nhạy với nước. Một lượng nước nhỏ trong không khí có thể tham gia pu polymer, tạo bọt khí. Các khí thoát ra này làm PU trở nên xốp.

Chain extender thường dùng là các diamin, dialcol.

Tính chất của sơn PU :

Một cách bình dân học vụ mà nói. Sơn PU cũng như những loại sơn khác đều có các thành phần chính như sau:
– Chất kết dính: polyisocyanate hoặc polyols biến tính có sẵn nhóm chức isocyante chưa bị kích hoạt ( cho loại sơn một thành phần), polyols hoặc polyester polyols ( cho loại sơn 2 thành phần- 2K PU)
– Chất đóng rắn ( chỉ dành cho loại sơn PU hai thành phần): MDI, polyisocyanate,…
– Màu ( chỉ dành cho sơn PU màu): màu che phủ ( titan dioxide, bari sunfate, carbon black,…) + màu độn ( talc, carbonate canxi). Hệ màu cho sơn PU có tiêu chuẩn khắt khe hơn so với các sơn alkyd, NC khác ở chổ không có hàm lượng ẩm cao, không hoạt tính với nhóm isocyante.
– Hệ dung môi: là các dung môi vô hoạt có tác dụng hòa tan, pha loãng chất kết dính và chất đóng rắn. Dung môi cũng có yêu cầu không có hoạt tính với isocyanate – tức không có chứa nhóm hydroxyl hoạt động.

Quá trình khô của màng sơn PU xảy ra cùng lúc 2 cơ chế:
– Khô vật lý : nhờ sự bay hơi dung môi trong màng sơn ướt trên bề mặt được phủ.
– Khô hóa học: phản ứng tạo mạng của hệ polymer giữa các nhóm chức NCO ( isocyanate) với OH ( hydroxyl). Với sơn một thành phần, ẩm chứa nhóm OH trong không khí bị hấp phụ và tương tác lên màng tạo phản ứng khâu mạch hình thành polyurethane. Ngoài ra, có vài loại sơn PU một thành phần có chất kết dính có thể khô nhờ nhiệt. Nhiệt độ kích hoạt sự giải phóng các nhóm isocynate bị bất hoạt để phản ứng với chính polyol trong mạch các phân tử polymer để tạo mạch. Với sơn hai thành phần, nhóm hydroxy (OH ) cùa các phân tử polyols sẽ phản ứng với các nhóm isocyante (NCO) của MDI hay polyisocyanate tạo mạng mạch polyurethane trong màng.
Sơn PU dùng thường để đáp ứng 2 yêu cầu: chịu dung môi và khô nhanh.
Nhưng nhược điểm lớn nhất của nó là mau ố vàng.
Do vậy, người ta chỉ dùng cho những nền có màu nâu đen sậm đến vàng đậm.

Sơn PU 2 thành phần thì thành phần hardener B là nguyên nhân chính gây ố vàng. Bạn nên hỏi lại nhà cung cấp về thông tin sản phẩm để biết chắc chắn rằng thành phần hardener không chứa các nhóm TDI, HDI.

Nếu bạn không có vấn đề về thời gian gia công, bạn nên dùng loại keo polyester để tạo khối và sơn epoxy hoặc acrylic để phủ mặt.

3. Phụ kiện kim khí

– Bản lề cửa : được xử dụng bằng vật liệu inox không gỉ với thiết kế thông minh giảm tối thiểu khe hở khi lắp đặt , chắc chắn , bền bỉ , dễ thao tác lắp đặt mà sang trọng.

vat lieu lam cua go tu nhien

Vật liệu làm cửa gỗ tự nhiên : phụ kiện cửa

Cửa gỗ tự nhiên của Nội thất Đức Dương được sử dụng bản lề cối số 2:

– Tay nắm và khoá sử dụng làm bằng vật liệu inox của hãng phụ kiện nội tiếng. Với thiết kế đơn giản , sang trọng , tinh tế tay nắm cửa và khoá cửa inox đáp ứng được đòi hỏi của những khách hàng khó tính nhất.

vat lieu lam cua go tu nhien

 Vật liệu làm cửa gỗ tự nhiên : bản lề cối số 2

Đăng bởi Cty NộiThất Đức Dương . Mục Cửa gỗ